14 loại sâm Việt Nam phổ biến tốt sức khỏe

5 phút đọc

 Khám phá các loại sâm Việt Nam phổ biến, đặc điểm, vùng phân bố, công dụng và lưu ý lựa chọn, sử dụng an toàn, phù hợp cho sức khỏe. 

Chia sẻ bài viết:

Các loại sâm Việt Nam gồm nhóm thuộc chi Panax và nhiều dược liệu được dân gian gọi là “sâm”, nhưng không có cùng đặc điểm hay thành phần. Bài viết giới thiệu 14 loại phổ biến, từ Sâm Ngọc Linh, Sâm Lai Châu đến Sâm Bố Chính, Sâm Cau và Đẳng Sâm; đồng thời làm rõ tên gọi khác, vùng phân bố, đặc điểm nhận biết, hoạt chất và lưu ý sử dụng.

Đôi bàn tay lấm lem bùn đất của người nông dân đang cẩn thận đào một củ sâm rừng tươi trên nền đất mùn đầy lá mục tại vùng núi cao, sương mù nhẹ.
Sâm Việt Nam đa dạng từ vùng núi cao Tây Bắc đến thảm rừng Tây Nguyên.

Sâm Ngọc Linh – đặc hữu Kon Tum, Quảng Nam.

Sâm Ngọc Linh còn được gọi là Sâm Việt Nam, Sâm K5, sâm đốt trúc, cây thuốc giấu hoặc củ ngải rọm con. Tên khoa học được sử dụng trong bài là Panax vietnamensis var. vietnamensis, thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae).[1]

Cây phân bố tự nhiên tại dãy Ngọc Linh, tập trung ở huyện Tu Mơ Rông và Đăk Glei của tỉnh Kon Tum, cùng huyện Nam Trà My của tỉnh Quảng Nam. Đây là vùng núi cao có khí hậu mát, độ ẩm lớn và lớp đất nhiều mùn dưới tán rừng. Hiện nay, Sâm Ngọc Linh còn được gây trồng, bảo tồn và phát triển vùng nguyên liệu tại các khu vực phù hợp thuộc hai tỉnh này.

Sâm Ngọc Linh là cây thân thảo sống lâu năm, thường cao khoảng 40–100cm. Thân rễ mọc bò ngang, có nhiều đốt và vết sẹo do thân khí sinh tàn lụi hằng năm. Lá kép hình chân vịt; quả khi chín chuyển sang màu đỏ cam và thường có chấm đen ở đỉnh.

Dược liệu nổi bật với hệ saponin phong phú, gồm nhóm dammaran và ocotillol. Majonoside-R2 là một trong những hợp chất thường được đề cập khi phân tích hàm lượng saponin trong sâm Ngọc Linh. Nguồn tổng hợp còn ghi nhận amino acid, polyacetylene, tinh dầu và khoáng chất.[2]

Trong sử dụng truyền thống, Sâm Ngọc Linh được dùng để bồi bổ và hỗ trợ phục hồi khi mệt mỏi hoặc suy nhược. Các nghiên cứu thực nghiệm đề cập đến hoạt tính chống stress, chống oxy hóa, điều hòa miễn dịch và bảo vệ tế bào. 

Cây sâm Ngọc Linh với lá kép chân vịt và thân rễ nhiều đốt đặt trên khăn
Sâm Ngọc Linh có thân rễ bò ngang, nhiều đốt và các vết sẹo hình thành sau mỗi mùa sinh trưởng.

Sâm Lai Châu – Lai Châu.

Sâm Lai Châu có tên khoa học Panax vietnamensis var. fuscidiscus. Một số nơi gọi dược liệu này theo địa danh như sâm Mường Tè; “tam thất đen”

Tại Việt Nam, cây được ghi nhận chủ yếu ở các khu vực núi cao thuộc tỉnh Lai Châu, đặc biệt quanh Mường Tè, Sìn Hồ và một số vùng lân cận có rừng thường xanh ẩm. Hình thái của Sâm Lai Châu khá gần Sâm Ngọc Linh. Cây thân thảo sống lâu năm, thân rễ bò ngang và có nhiều đốt. Một dấu hiệu thường được mô tả là vòng màu tím trên mặt cắt thân rễ. Quả khi chín có màu đỏ, với đốm đen ở đỉnh thường rộng hơn ở Sâm Ngọc Linh.

Thành phần hóa học nổi bật gồm saponin dammaran và ocotillol. Một số chất được sử dụng trong quá trình phân tích mẫu gồm Majonoside-R1, Vinaginsenoside-R2, Ginsenoside-Rb2 và một số notoginsenoside. Dược liệu này có khả năng hỗ trợ chống mệt mỏi, chống oxy hóa và điều hòa một số đáp ứng miễn dịch của chiết xuất Sâm Lai Châu. [3]

Các thân rễ sâm Lai Châu nhiều đốt được đặt trên lá xanh sau khi thu hoạch
Sâm Lai Châu thuộc chi Panax, có thân rễ bò ngang, nhiều đốt và hình thái gần với Sâm Ngọc Linh.

Sâm Lang Biang – Lâm Đồng.

Sâm Lang Biang còn được gọi là Sâm Langbian, Sâm Lâm Đồng hoặc sâm Việt Nam Lang Biang. Tên khoa học là Panax vietnamensis var. langbianensis, một nguồn gen thuộc chi Panax được ghi nhận tại khu vực cao nguyên Lâm Đồng.[4]

Cây phân bố tự nhiên ở các vùng núi thuộc huyện Lạc Dương, Đam Rông, thành phố Đà Lạt và khu vực Vườn quốc gia Bidoup–Núi Bà. Sâm Lang Biang có hình thái gần Sâm Ngọc Linh với thân rễ bò ngang, lá kép chân vịt và cụm hoa dạng tán. 

Cây sâm Lang Biang gồm lá kép chân vịt, thân dài và thân rễ bò ngang
Sâm Lang Biang là nguồn gen thuộc chi Panax, được ghi nhận tại những vùng núi cao của tỉnh Lâm Đồng.

Sâm Vũ Diệp – miền Bắc (Sa Pa, Lào Cai…).

Sâm Vũ Diệp còn được gọi là sâm lá xẻ, tam thất lá xẻ hoặc vũ diệp tam thất. Tên khoa học là Panax bipinnatifidus, thuộc họ Nhân sâm.

Tại Việt Nam, cây thường được ghi nhận ở khu vực núi cao thuộc dãy Hoàng Liên Sơn, nhất là Sa Pa và một số địa bàn của tỉnh Lào Cai. Dấu hiệu dễ nhận biết nhất là các lá chét xẻ thùy lông chim sâu. Cây có thân thảo mảnh, thân rễ kéo dài và chia thành nhiều đốt. Hoa mọc thành tán, trong khi quả khi chín chuyển sang màu đỏ.

Sâm Vũ Diệp chứa saponin triterpen thuộc nhóm oleanane và dammarane, trong đó tài liệu đề cập đến chikusetsusaponin, zingibroside và một số ginsenoside. Theo y học cổ truyền, dược liệu được dùng trong các bài thuốc liên quan đến huyết, cầm máu, giảm đau và phục hồi thể trạng. 

Cây sâm Vũ Diệp với lá chét xẻ sâu và thân rễ dài nhiều đốt
Lá chét xẻ thùy sâu là đặc điểm nổi bật giúp nhận biết Sâm Vũ Diệp với một số loài khác trong chi Panax.

Tam thất hoang – miền Bắc biên giới.

Tam thất hoang còn được gọi là sâm rừng, bình biên tam thất hoặc tam thất rừng. Tên khoa học là Panax stipuleanatus, một loài thuộc chi Panax.

Cây phân bố ở các vùng núi cao, ẩm và gần biên giới phía Bắc Việt Nam, với những ghi nhận tại Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu cùng một số địa bàn lân cận. Tam thất hoang là cây thân thảo sống lâu năm, có lá kép chân vịt và rễ củ với lớp vỏ ngoài sẫm màu. Quả khi chín thường đỏ đồng nhất, không có chấm đen rõ như một số giống Panax vietnamensis.[5]

Theo kinh nghiệm truyền thống, Tam thất hoang được dùng để cầm máu, tiêu ứ, giảm đau và hỗ trợ phục hồi sau chấn thương. Dược liệu có thể bị nhầm với những loài Panax khác khi chỉ quan sát củ hoặc thân rễ. Người đọc có thể xem thêm bài tam thất và sâm Ngọc Linh để hiểu những tiêu chí nhận diện quan trọng.

Các củ tam thất hoang tươi có nhiều rễ nhánh và phần cổ củ màu xanh
Tam thất hoang là một loài thuộc chi Panax, có rễ củ và cần được phân biệt với Sâm Vũ Diệp khi thu mua dược liệu.

Sâm Bố Chính - Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Tây Bắc.

Sâm Bố Chính còn được gọi là Sâm Thổ Hào, Sâm Báo, Sâm Phú Yên, nhân sâm Phú Yên hoặc thổ hào sâm. Tên khoa học thường dùng là Abelmoschus sagittifolius, thuộc họ Cẩm quỳ.

Tên gọi Bố Chính gắn với vùng Bố Chính xưa, thuộc khu vực Quảng Bình và một phần Quảng Trị ngày nay. Cây hiện được trồng tại Quảng Bình, Quảng Trị, Nghệ An, Hà Tĩnh, Phú Yên, một số tỉnh Tây Nguyên và vùng trung du, miền núi phía Bắc.Tên gọi địa phương có thể thay đổi theo vùng trồng nhưng không làm thay đổi yêu cầu định danh nguyên liệu.[6]

Đây là cây thân thảo, thường cao khoảng 30–100cm. Lá thay đổi hình dạng theo vị trí; hoa có thể mang màu hồng, đỏ nhạt hoặc vàng. Rễ phình thành củ màu trắng ngà hoặc vàng nhạt và là bộ phận thường được sử dụng.

Rễ chứa nhiều chất nhầy, tinh bột, amino acid, phytosterol và một số hợp chất phenolic. Theo y học cổ truyền, Sâm Bố Chính được dùng để bổ khí, hỗ trợ tỳ vị, cải thiện tình trạng ăn kém và suy nhược. 

Các củ sâm Bố Chính tươi màu trắng ngà, hình trụ và phình rộng ở giữa
Rễ sâm Bố Chính thường phình thành củ màu trắng ngà hoặc vàng nhạt và là bộ phận được dùng làm dược liệu.

Sâm Cau – Phân bố rộng ở khắp Việt Nam

Sâm Cau còn được gọi là Tiên Mao, Ngải cau, cồ nốc lan hoặc độc mao. Tên khoa học là Curculigo orchioides; cây không thuộc chi Panax dù tên tiếng Việt có chữ “sâm”.

Ở Việt Nam, Sâm Cau mọc tại nhiều vùng đồi núi thuộc Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, miền Trung và Tây Nguyên. Cây được ghi nhận ở những khu vực thuộc Lào Cai, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai và Lâm Đồng. Cây có thể mọc tự nhiên ở bìa rừng, đồi cỏ hoặc được gây trồng làm dược liệu.

Lá cây hẹp, dài và xếp nếp giống lá cau. Phần dùng phổ biến là thân rễ hình trụ, vỏ màu nâu đến nâu đen. Dược liệu chứa curculigoside, curculigosaponin, flavonoid, polysaccharide và một số hợp chất steroid. Theo y học cổ truyền, Sâm Cau được dùng trong nhóm bài thuốc bổ thận, mạnh gân cốt và hỗ trợ chức năng sinh lý. [7]

Các thân rễ sâm cau màu nâu đỏ được bó thành từng bó sau khi thu hoạch
Thân rễ sâm cau có dạng hình trụ, vỏ nâu đến nâu đen và thường được thu hoạch để làm dược liệu.

Đẳng Sâm – Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn.

Đẳng Sâm còn được gọi là Đảng Sâm, bạch đảng sâm, tây đảng sâm, cây đùi gà, ngân đằng hoặc phòng đảng sâm. Codonopsis pilosula thường được dùng để chỉ Đẳng Sâm Bắc, trong khi tên Sâm dây hay Đảng Sâm Việt Nam thường gần với Codonopsis javanica hơn.[8]

Codonopsis pilosula có nguồn gốc ngoài Việt Nam nhưng được trồng và sử dụng tại những vùng khí hậu mát ở Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang và Lai Châu. Codonopsis javanica được ghi nhận ở các vùng núi thuộc Tây Nguyên và miền Trung, trong đó có Kon Tum, Quảng Nam và Lâm Đồng.Cây có thân thảo leo hoặc bò, lá hình trứng đến hình tim, hoa dạng chuông và rễ dài hình trụ. 

Nhóm thành phần được ghi nhận gồm polysaccharide, lobetyolin, tangshenoside, flavonoid và một số hợp chất polyacetylene. Theo y học cổ truyền, Đẳng Sâm được dùng để bổ khí, kiện tỳ, ích phế và hỗ trợ người mệt mỏi hoặc ăn uống kém. 

Các củ đẳng sâm tươi màu trắng ngà, thân dài và có nhiều rễ nhỏ
Đẳng sâm có rễ dài hình trụ, thường được sử dụng trong Đông y để bổ khí và hỗ trợ người ăn uống kém.

Đương Quy - Lào Cai, Lai Châu, Hòa Bình

Đương Quy còn được gọi là tần quy, vân quy, Sâm tố nữ hoặc “nhân sâm của phụ nữ”. Tên khoa học là Angelica sinensis, thuộc họ Hoa tán.

Dược liệu có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng đã được đưa vào trồng tại những vùng khí hậu mát của Việt Nam. Các vùng thường được đề cập gồm Sa Pa, Bắc Hà và Bát Xát thuộc Lào Cai; một số khu vực tại Lai Châu, Hòa Bình và Lâm Đồng. Đương Quy được sử dụng rộng hơn phạm vi trồng do nguyên liệu còn được phân phối từ nhiều nguồn khác nhau.

Cây thân thảo, có lá xẻ lông chim nhiều lần và cụm hoa tán kép. Rễ phát triển, chia nhiều nhánh, có mùi thơm đặc trưng. Tinh dầu, ligustilide, acid ferulic, coumarin và polysaccharide là những thành phần thường được nhắc đến.[9]

Theo y học cổ truyền, Đương Quy được dùng để bổ huyết, hoạt huyết, điều kinh và nhuận tràng. Do đặc tính hoạt huyết và khả năng ảnh hưởng đến kết tập tiểu cầu được nêu trong dữ liệu, phụ nữ mang thai và người đang dùng thuốc chống đông không nên tự sử dụng. 

Cây đương quy tươi gồm lá xẻ lông chim và bộ rễ dài đặt trong hộp
Đương quy có lá xẻ nhiều lần và phần rễ phân nhánh, mang mùi thơm đặc trưng của dược liệu.

Sâm Đất – mọc hoang và trồng khắp nơi, dùng làm rau thuốc.

Sâm Đất là tên gọi đa nghĩa, còn có thể xuất hiện dưới các tên thổ nhân sâm, Sâm nam, Sâm mồng tơi hoặc Sâm quy bầu. Talinum paniculatum và Boerhavia diffusa là hai loài thường được gắn với tên này nhưng không nên xem là một dược liệu duy nhất.[10]

Talinum paniculatum thường được trồng làm rau hoặc cây thuốc trong vườn gia đình tại nhiều tỉnh từ Bắc vào Nam. Boerhavia diffusa có thể mọc hoang ở bãi đất, ven đường, ruộng vườn và những nơi tương đối khô tại cả miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Hai loài này cũng không đồng nhất với Hoàng Sin Cô, tên khoa học Smallanthus sonchifolius, thường được trồng ở vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên.

Talinum có thân mọng nước, lá dày và hoa nhỏ màu hồng; thành phần được ghi nhận gồm flavonoid, phytosterol và một số saponin. Boerhavia có thân bò, lá hình trứng, rễ dài màu nâu và chứa alkaloid punarnavine, flavonoid, lignan cùng polysaccharide.

Trong dân gian, các cây mang tên Sâm Đất được dùng để thanh nhiệt, lợi tiểu, hỗ trợ tiêu hóa hoặc bồi bổ nhẹ. Không nên lấy thành phần hoặc công dụng của loài này áp cho loài còn lại. 

Củ Hoàng Sin Cô vỏ nâu, phần ruột vàng nhạt sau khi được gọt vỏ
Hoàng Sin Cô có củ giòn, mọng nước và không đồng nhất với các loài thường được gọi là Sâm Đất.

Sa Sâm – Mọc ven biển và đảo Việt Nam.

Sa Sâm có thể được gọi là Sa sâm nam, Hải cúc, Nam sa sâm hoặc Bắc sa sâm tùy loài. Tại Việt Nam, Sa sâm nam thường được gắn với Launaea sarmentosa; tên Launaea pinnatifida cũng xuất hiện trong một số tài liệu. Glehnia littoralis là Bắc sa sâm và thuộc một loài khác.

Sa sâm nam mọc tự nhiên trên các bãi cát ven biển và đảo, từ vùng duyên hải Bắc Bộ đến Bắc Trung Bộ, Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Cây có thể gặp tại Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, khu vực duyên hải miền Trung và một số đảo. Glehnia littoralis không nên được mặc định có cùng phạm vi phân bố với Launaea tại Việt Nam.

Launaea sarmentosa có thân bò, lá tập trung thành hoa thị, hoa màu vàng và rễ dài thích nghi với nền cát. Các nguồn ghi nhận flavonoid, coumarin, polyacetylene, sterol và hợp chất phenolic.[11]

Theo y học cổ truyền, Sa Sâm được dùng để thanh nhiệt, nhuận phế và hỗ trợ tình trạng ho khan hoặc khô họng. Hoạt tính kháng khuẩn trong phòng thí nghiệm không đồng nghĩa với khả năng điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp ở người.

Cây sa sâm nam mọc thành cụm cùng rễ tươi và dược liệu thái sợi đã phơi khô
Sa sâm nam thích nghi với nền đất cát ven biển, phần rễ thường được thu hoạch và sơ chế làm dược liệu.

Huyền Sâm – Trồng và sử dụng phổ biến trong Đông y Việt Nam.

Huyền Sâm còn được gọi là Nguyên Sâm, Hắc Sâm hoặc Huyền Đài. Tên khoa học thường dùng là Scrophularia ningpoensis. Tên Hắc Sâm trong dược liệu cổ truyền không đồng nghĩa với hắc sâm Hàn Quốc được chế biến từ Panax ginseng.

Cây có nguồn gốc từ Trung Quốc và được nhập vào hệ thống dược liệu Đông y tại Việt Nam. Huyền Sâm có thể được trồng ở quy mô phù hợp tại một số vùng núi, trung du có khí hậu tương đối mát, nhưng phần lớn người dùng gặp dược liệu dưới dạng đã sơ chế tại các cơ sở Đông y trên toàn quốc. 

Huyền Sâm có thân vuông, lá mọc đối và rễ củ chuyển màu đen sau quá trình bào chế. Thành phần nổi bật gồm các iridoid glycoside như harpagoside, harpagide và aucubin, cùng phenylpropanoid, acid béo và một số hợp chất khác.

Theo Đông y, Huyền Sâm được dùng để bổ âm, thanh nhiệt, sinh tân và hỗ trợ tình trạng họng khô, nóng trong hoặc táo bón do nhiệt. Không nên suy diễn những công dụng này sang sản phẩm hắc sâm Hàn Quốc vì đây là hai nguyên liệu khác nhau.

Cây huyền sâm với lá xanh mọc đối và phần rễ củ nằm trong đất
Huyền sâm có lá mọc đối và phần rễ được thu hoạch, sơ chế để sử dụng trong các bài thuốc Đông y.

Sâm Đại Hành – Rất phổ biến, dễ trồng trong vườn nhà.

Sâm Đại Hành còn được gọi là Tỏi đỏ, Tỏi lào, Hành lào, Hành đỏ hoặc Kiệu đỏ. Tên khoa học là Eleutherine bulbosa, thuộc họ Diên vĩ và không thuộc chi Panax.

Cây dễ trồng trong vườn gia đình và xuất hiện tại nhiều khu vực từ miền Bắc đến miền Nam. Cây thường gặp ở vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, miền Trung và Tây Nguyên, nơi có khí hậu ấm, đất thoát nước và đủ ẩm. 

Cây có lá dài giống hành, hoa nhỏ màu trắng và thân hành màu đỏ tía. Phần thân hành là bộ phận được dùng phổ biến. Màu đỏ của củ liên quan đến nhóm naphthoquinone như eleutherin, isoeleutherin và eleutherol; ngoài ra còn có flavonoid, hợp chất phenolic và sterol. Theo kinh nghiệm dân gian, Sâm Đại Hành được dùng để hỗ trợ bổ huyết, tiêu viêm, trị ho hoặc chăm sóc một số tổn thương ngoài da. 

Các củ sâm đại hành màu đỏ tím đặt cạnh cây có lá dài giống lá hành
Sâm đại hành dễ nhận biết qua lá dài và phần thân hành màu đỏ tím chứa nhóm hợp chất naphthoquinone.

Sâm Quy Đá – Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang

Sâm Quy Đá còn được gọi là Sâm đá trắng, Sâm đá hoặc Sâm quy rừng trên một số thị trường địa phương. Đây là mục có khoảng trống định danh lớn nhất trong danh sách và chưa có một tên khoa học được sử dụng thống nhất.

Nguyên liệu mang tên Sâm Quy Đá thường được giới thiệu là thu hái hoặc trồng tại các vùng núi thuộc Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang và một số tỉnh phía Bắc.  Khi mua, người dùng cần yêu cầu tên khoa học, bộ phận sử dụng, tỉnh và khu vực thu hái, đơn vị cung cấp cùng thông tin kiểm nghiệm. Nếu sản phẩm chỉ ghi tên thương mại “Sâm Quy Đá”, chưa đủ cơ sở để xác định đó là một dược liệu cụ thể.

ác củ dược liệu được giới thiệu với tên thương mại Sâm Quy Đá sau khi thu hoạch
Sâm Quy Đá là tên gọi thương mại chưa có định danh khoa học thống nhất, vì vậy cần xác minh nguồn gốc trước khi sử dụng.

Câu hỏi thường gặp về các loại sâm Việt Nam

Những loại sâm nào của Việt Nam thuộc chi Panax?

Năm mục thuộc chi Panax trong bài gồm Sâm Ngọc Linh, Sâm Lai Châu, Sâm Lang Biang, Sâm Vũ Diệp và Tam thất hoang. Các mục còn lại thuộc nhiều họ thực vật khác nhau.

Sâm Việt Nam nào tốt nhất?

Không có loại sâm việt nam tốt nhất cho mọi người và mọi mục đích. Sâm Ngọc Linh nổi bật về tính đặc hữu và hệ saponin, nhưng lựa chọn thực tế còn phụ thuộc nhu cầu, bằng chứng, độ an toàn, chất lượng sản phẩm và thể trạng người dùng.

Làm sao tránh nhầm các loại cây cùng mang tên sâm?

Không nên chỉ dựa vào tên thương mại, địa danh bán hàng hoặc hình dáng củ. Hãy kiểm tra tên khoa học, bộ phận dùng, vùng trồng, nguồn thu hái, thành phần nhãn và hồ sơ kiểm nghiệm, đặc biệt với Sâm Đất, Sa Sâm, Sâm đá và Sâm Quy Đá.

Lời kết

Khi tìm hiểu các loại sâm Việt Nam, bạn nên phân biệt rõ tên khoa học, vùng trồng, bộ phận sử dụng và dạng chế biến thay vì chỉ dựa vào tên thương mại. Hãy đọc kỹ nhãn, kiểm tra nguồn nguyên liệu và cân nhắc thể trạng, bệnh nền cùng thuốc đang dùng trước khi lựa chọn. Nếu quan tâm đến Sâm Ngọc Linh, bạn có thể tham khảo rượu, trà và các set quà tặng Sâm Ngọc Linh tại Vitamax.